Hội thảo có sự tham gia của các giáo sư, chuyên gia dinh dưỡng từ Nhật Bản, Mỹ, Việt Nam; lãnh đạo Quỹ Ajinomoto - Tập đoàn Ajinomoto, Công ty Ajinomoto Việt Nam cùng các khách mời là các bác sĩ, cán bộ dinh dưỡng và giảng viên chuyên ngành dinh dưỡng của các trường đại học và cao đẳng y tế tại Hà Nội.
Các giáo sư, chuyên gia dinh dưỡng đến từ Nhật Bản, Mĩ và Việt Nam tham gia và miêu tả tại Hội thảo.
Được biết hội thảo nằm trong phạm vi Dự án phát triển Hệ thống Dinh dưỡng Việt Nam (Vietnam Nutrition system Establishment Project – gọi tắt là VINEP) trong năm 2019, được phối hợp tổ chức bởi Viện Dinh dưỡng Quốc gia – Bộ Y tế, Quỹ Ajinomoto - Tập đoàn Ajinomoto, Công ty Ajinomoto Việt Nam và các trường đại học.
Tại Hội thảo, xoay quanh chủ đề cá thể hóa trong dinh dưỡng, nhiều nội dung đã được biểu hiện và bàn thảo tại Hội thảo như: Lịch sử chính sách và thực hiện dinh dưỡng tại Nhật Bản, Vai trò của cán bộ dinh dưỡng tại Mỹ, cá nhân chủ nghĩa hóa dinh dưỡng từ góc độ di truyền học và một số kết quả nghiên cứu về gen nhạy cảm với bệnh hệ trọng đến dinh dưỡng tại Việt Nam, Cập nhật điều trị dinh dưỡng cho bệnh nhân ngoại khoa, Cá thể hóa trong dinh dưỡng,…
Cá thể hóa dinh dưỡng là chuyển đổi từ tư vấn chế độ dinh dưỡng chung cho vớ các đối tượng trong cộng đồng sang tư vấn chế độ dinh dưỡng và lối sống đặc thù cho mỗi cá nhân chủ nghĩa, dựa trên đặc điểm cá nhân, bao gồm yếu tố hành vi (cách tuyển lựa thực phẩm, nếp ăn uống, yếu tố tâm lý, tình trạng thể lực,…) và nguyên tố sinh vật học (cân nặng, chiều cao, gen di truyền,…). Mục đích của cá thể hóa trong dinh dưỡng là đổi thay lâu dài về hành vi trong chế độ dinh dưỡng theo hướng có lợi cho sức khỏe.
PGS. TS. Nguyễn Thanh Hải – Phó chủ nhiệm Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội phát biểu tại Hội thảo.
Theo Bộ Y tế (2019), Việt Nam đang phải đối mặt với mô hình bệnh tật kép, đó là bệnh lây truyền và bệnh không lây truyền. Trong đó, bệnh không lây nhiễm như đái tháo đường, bệnh tim mạch, ung thư…chiếm đến 70% gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam và là căn do gây tử vong hàng đầu. phần lớn các bệnh không lây có các nguyên tố nguy cơ bắt nguồn từ chế độ dinh dưỡng và vận động thể lực chưa hợp lý. Chính thành thử, việc can thiệp dinh dưỡng đóng vai trò ngày càng quan yếu. Trong đó, cá thể hóa dinh dưỡng được dự đoán trở nên mô hình chăm sóc dinh dưỡng ngày mai.
Để việc thực hành cá thể hóa dinh dưỡng được ứng dụng rộng rãi, việc tham khảo mô hình hệ thống dinh dưỡng của các Quốc gia có nền dinh dưỡng phát triển như Nhật Bản, Mỹ, từ đó tiến hành mở mang hệ thống đào tạo cán bộ dinh dưỡng trong nước và xây dựng các chính sách thích hợp về mặt quản lý, hoạt động là cực kỳ quan trọng. Với đích gia tăng nhận thức của các nhà quản lý và cán bộ y tế về vấn đề này, các diễn giả đã biểu lộ và đàm luận về nhiều mặt của việc thực hiện cá thể hóa dinh dưỡng nói riêng và tầm quan trọng về dinh dưỡng tiết chế nói chung.
GS. Mary Murimi – Giáo sư Dinh dưỡng, Đại học Công nghệ Texas (Mỹ) bộc lộ tại Hội nghị.
Bên cạnh đó, vấn đề đào tạo dinh dưỡng cũng được miêu tả và đàm đạo tại Hội nghị. Các chuyên gia cũng đã chia sẻ những mô hình đào tạo tại Hoa Kỳ và Nhật Bản. giả dụ hiện nay tại Việt Nam đã triển khai mô hình đào tạo cử nhân dinh dưỡng 4 năm thì tại những nước như Hoa Kỳ, các mô hình đào tạo để trở thành một cán bộ dinh dưỡng khá đa dạng, bao gồm đào tạo cao đẳng, đại học, sau đại học…Đặc biệt, bên cạnh nhân tố lý thuyết thì nhân tố thực hành trong các cơ sở y tế và săn sóc sức khỏe rất được trọng để đẩy mạnh kỹ năng và tay nghề. Sinh viên được đề nghị phải có tối thiểu 1.200 giờ thực hành tại bệnh viện, cơ sở coi ngó y tế, các cơ sở cung cấp dịch vụ thực phẩm v.v. Còn tại Nhật Bản, ngành dinh dưỡng đã được bắt đầu từ năm 1925, hiện có hơn 300 trường đại học và cao đẳng đào tạo nghề dinh dưỡng. Nhật Bản hiện có khoảng 1 triệu cán bộ dinh dưỡng và tỷ lệ cán bộ dinh dưỡng là 1:1.000 dân, tỷ lệ cao nhất trên toàn thế giới, góp phần đưa đến những tiến bộ ngoạn mục về dinh dưỡng của Nhật Bản.
Tại Việt Nam, mặc dầu cá thể hóa dinh dưỡng là một khái niệm còn tương đối mới mẻ nhưng tại nhiều bệnh viện đầu ngành như bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Chợ Rẫy; dinh dưỡng lâm sàng – dinh dưỡng điều trị đã và đang được vận dụng và đóng góp hiệu quả, hăng hái vào việc tăng hiệu quả điều trị cho bệnh nhân, giảm thời gian nằm viện, giảm chi phí điều trị. Trong đó dinh dưỡng mang tính cá thể hóa ngày một được đẩy mạnh và cho thấy nhiều hiệu quả hăng hái.